Huấn Ca Phù Đổng
Sách Lược Cứu Nước
Phạm Văn Bản
Tích
truyền Cứu Nước dẫn lời
Huấn
linh Phù Đổng từ thời Hùng Vương
Đề
ra Sách Lược tỏ tường
Tổ
Tiên hướng dẫn con đường Giúp Dân
Xâm
lăng với nạn giặc Ân
Vua
Hùng tìm cách giải phần nguy cơ
Dùng
bao phương thức – nào ngờ
Chẳng
ngăn nổi giặc – cõi bờ phá tan
Nhà
Vua chợt nhớ lập đàn
Khẩn
cầu Quốc Tổ – thương ban nước nhà
Can
qua tại chốn ngã ba
Trong
cơn giông tố hiện ra Cụ Gìa
Hình
dung cổ quái – múa ca
Râu
dài áo đỏ – đậm đà tuyết sơn
Giỡn
chơi với đám trẻ con
Rầm
rầm chạy nhảy – cười dòn pháo rang
Nhìn
qua khung cảnh ngòai đàng
Tuần
quan thấy lạ vội vàng tâu vua
Hùng
Vương tiến đến kính thưa
Cầu
Cụ giúp chước – tránh thua quân thù
Cụ
cười và bảo: “Nhân thu
Nhà
vua sai sứ chu du tìm người!”
Vương
liền phán đến khắp nơi
Tìm
người cứu nước như lời Tổ khuyên
Sứ
nhân hăng hái rao truyền:
“Tổ
về và bảo thường xuyên đi tìm”
Và
làng Phù Đổng đồi sim
Có
con trai nhỏ im lìm ba năm
Chẳng
đi, cười, nói – chỉ nằm
Tới
khi sứ đến viếng thăm làng này
Cậu
ta bật dậy trình bày
Xin
con ngựa sắt với tay roi dài
Từ
đây Cậu Bé trổ tài
Lớn
mau như thổi – tiêu sài áo cơm
Gia
đình tận lực bổ bơm
Bà
con lối xóm đong đơm giúp vào
Tới
hôm ngựa sắt sứ trao
Vươn
vai hít thở lớn cao phi thường
Phóng
lên ngựa sắt cầm cương
Ngựa
liền phun lửa nhắm phương nghịch thù
Vung
roi đánh giặc mịt mù
Nhổ
tre mà đánh – cho dù gãy roi
Số
làng ngựa thổi cháy toi
Giặc
tan – trời đất đã soi rửa hờn
Thắng
quân tới núi Sóc Sơn
Cậu
cùng ngựa lửa thoát cơn – Về Trời
Gốc
tre bỏ lại trên đời
La
Ngà – Thánh Gióng – đồng thời mọc lên
Vua
Hùng phong cậu với tên
Thiên
Vương Phù Đổng giữ bền non sông
*
*
Kính
thưa quý vị và các bạn,
Sách
Lược Cứu Nước của Tổ Tiên muôn đời hữu dụng, sách gối đầu giường hằng đêm suy tính
từng điểm, từng chữ, từng câu làm một chương trình sống cho những ai dám quyết
tâm phá giặc. Dám thấy việc phải làm, dám làm việc đã thấy. Dám đối diện với thực
tại, dám nhìn thẳng vào tương lai. Dám đương đầu với khó khăn, dám biến chướng
ngại thành phương tiện. Dám từ bỏ những gì mà mình đang có, để thực hiện điều
cao qúy hơn. Không chỉ dám bằng hứng chí, bằng lý trí, bằng chứng cớ, bằng suy
tư mà còn dám với tất cả tâm hồn, chúng ta dám cảm nhận sống thực với chính
mình, vì bao trăm năm qua dân nước Việt Nam chưa một lần được thực sự giải cứu.
Bởi
thế Phù Đổng là Bài Học Cải Hóa – cải hóa từng con người, và cải hóa toàn thể
xã hội. vừa Cứu Nước lại vừa Cải Hóa Con Người.
Khởi
đầu sự kiện nước bị Giặc Ân xâm chiếm – Thời Nhà Ân Trung Quốc cũng cùng với Thời
Vua Hùng ở vùng Đất Tổ của chúng ta là Hồ Động Đình. Nhân việc kể đi kể lại chiến
tích chống ngoại xâm, Tổ Tiên đúc kết thành bài học Cứu Nước và Cứu Người.
Trước
nạn giặc xâm chiếm, nước mất nhà tan, dân tình khốn khổ, Vua Hùng và triều đình
đã dùng hết cách, hết sức, hết lực nhưng vẫn không ngăn được giặc. Tuy là bối cảnh
câu chuyện, nhưng lại là yếu tố giúp chúng ta chuẩn bị cho một tổ chức cứu nước
hoàn chỉnh và hữu hiệu.
Mọi
phương thức chống giặc đều vô hiệu, lực lượng tan rã, lòng dân phân tán, đồng
minh trở mặt. Giặc lại thừa thắng xông lên, gây bao oan nghiệt, điêu linh thống
khổ cho đồng bào, cho đất nước, cho giống dòng.
Chúng
ta phải nhận chân thảm trạng mất nước. Không lượng định chính xác sức mạnh của
giặc, và tình trạng yếu kém của ta về mọi phương diện, thì chỉ là lạc quan trái
mùa hay sợ giặc mà không nhìn ra giặc, không đánh giặc mà lại đánh nhau. Chúng
ta cần học hỏi và trau dồi tài năng sao cho hơn giặc mọi mặt thì mới mong thắng
giặc.
Nhận
chân thực trạng để biết địch biết ta.
Xác
định đức tính thiết yếu của chúng ta là dám nhận thực hiện trạng phũ phàng, dám
tin tưởng tuyệt đối vào sức sống sức mạnh của dân tộc. Chúng ta dám lột xác để thích
ứng với tình thế mới, điều kiện mới, hoàn cảnh mới, và quyết tâm dấn thân thực
hiện việc tổ chức cứu nước cho đến ngày thành công.
Bài
học khởi sự với việc nêu rõ điều kiện, đức tính cần thiết để cải hóa từng người,
rồi từ một người tới tổ chức, từ tổ chức tới mọi người khác. Phù Đổng duyệt qua
từng giai đoạn, từng công tác, từng hành động từ việc vận động tinh thần, tới
các điều kiện đoàn kết, qua phương thức phát hiện tiềm năng, tới cách thể hiện
điều hợp, ứng biến và tập trung sức mạnh.
Bài
học nêu rõ vấn đề vai trò các chủ lực, thái độ và phương thức để khỏi rơi vào
tròng độc tài, áp bức, bất công. Tất cả được Tổ Tiên hướng dẫn từng bước cụ thể,
từng giai đoạn thực tế, để từng người, từng nhóm người và toàn thể trở về với
Con Người đích thực, và Xã Hội cũng đích thực trọn vẹn là xã hội con người.
Trong
ngõ bí của thời cuộc, trong phũ phàng của thực trạng mất nước, Tổ Tiên cho bừng
lên một vừng sáng chói chang hy vọng là Vua Hùng lập đàn cầu Tổ về giúp. Việc lập
đàn chứng tỏ lòng thành và ý thức của chúng ta về tầm mức quan trọng vượt bực
trong đại cuộc giúp dân cứu nước. Cứu một người đã khó thay, huống chi cứu cả một
dân tộc, một đất nước, một lịch sử giống dòng.
Tổ
là biểu trưng cho Tinh Thần, cho Sức Sống tối cao, Hồn Thiêng của Dân Tộc. Ngài
là nguồn gốc và là sự sống còn, là niềm hy vọng và là tụ điểm của toàn dân. Cầu
Tổ là bộc lộ niềm tin bất diệt, niềm hy vọng tuyệt đối vào sức sống vô biên và
truyền thống siêu việt của dân tộc. Ðây chính là nền tảng đích thực của tổ chức
chính trị mang sứ mệnh Giúp Dân Cứu Nước. Bất cứ nền tảng nào khác đều dẫn tới
hậu quả là biến dân nước thành vong nô của ngoại bang, của tà thuyết, của cường
quyền hay nhóm lợi ích.
Việc
cầu Tổ, Phù Đổng còn nối kết cách tuyệt diệu với các truyền thuyết Tiên Rồng, Tiết
Liêu. Tiên Rồng – Cha Rồng nhắn nhủ: “Khi cần thì gọi, Ta về ngay.” Tiết Liêu –
Tiết Liêu thành tâm an dân thịnh nước, Tổ cũng về giúp. Thời bình mà Tổ còn
thương như vậy, huống chi thời loạn và con cháu đau khổ. Con cháu Tiên Rồng có
lúc nào cần Tổ thương về giúp, khi đất nước gặp nạn, gia đình ly tán, đồng bào
thống khổ?
Con
cháu khẩn thiết kêu cầu, Vua Hùng lập đàn cầu Tổ về giúp.
Trên
đàn có ngai qúy để Tổ về ngự, hương trầm nghi ngút, đèn nến sáng ngời, lễ vật đầy
đủ. Vua quan đều thân thanh tâm tịnh, thành tâm thiện ý, đoàn kết một lòng. Dân
chúng vây quanh cầu khẩn, van xin thống thiết, và uy nghi trang trọng. Ai cũng
chờ Tổ hiển hiện tại đàn, “hoành tráng” chưa từng thấy.
Nào
ngờ trên đàn chưa thấy dấu linh, thì ở ngã ba đường có một Cụ Già Áo Đỏ đang
đùa giỡn với đám trẻ trong làng. Người dám tiến vào đại chúng, tìm gặp Tổ chính
là Vua Hùng. Vì quyết tâm cứu nước, nên dầu thấy những cảnh tượng bất thường của
Cụ Gìa, Vua Hùng cũng tìm tới gặp Cụ, và xin Cụ dạy cách cứu nước. Phải thành
tâm cùng tột, tuệ linh sáng ngời như Vua Hùng mới có thể nhận ra đó không phải
là quái nhân tới phá đám, mà Tổ đã về.
Tuy
đã lập đàn và chuẩn bị mọi sự, tức là đã dự tính cho nhiều kế hoạch, nhiều
chương trình nhưng Vua Hùng cương quyết gạt bỏ tất cả, tới ngã ba đường gặp Cụ
Gìa cổ quái để học cách tổ chức cứu nước. Đây là điểm đột phá quan trọng cho người
lãnh đạo, là Lột xác.
Không
vượt điểm đột phá này, không lột xác, không từ bỏ dự tính và phương thức cũ, thì
chúng ta không thành công. Không thích ứng với điều kiện và hoàn cảnh mới,
không đón nhận kiến thức mới, chúng ta không thể hội nhập vào tổ chức chính trị
Tiên Rồng. Không mở rộng tâm trí đón nhận những bất ngờ, những cổ quái, thì chúng
ta không thể nghe được tiếng Tổ gọi, tức là không thể nhận ra những phương thức
thực sự hữu hiệu cho việc cứu nước. Và chúng ta có vượt qua được điểm lột xác
thì mới có cơ may được Tổ dạy cách Cứu Nước.
Bất
chấp sự phản đối của những quần thần kênh kiệu can ngăn, Vua Hùng lội bùn đội
mưa tới ngã ba đường gặp Tổ, và được Tổ dạy một phương thức cứu nước. Nhưng cách
Tổ dạy cũng cổ quái. Tổ bảo vua sai sứ đi khắp nơi tìm người cứu nước. Thực kỳ
lạ! Tại sao Tổ không nói rõ vị cứu tinh đó là ai? Tại sao lại bảo cho người đi
tìm? Nếu chỉ có thế, thì Tổ hiện về làm gì? Vua Hùng cũng chẳng đang làm những
việc đó sao?
Nhưng
chính điểm kỳ quái lại là một bài học cho chúng ta. Tổ nhắc nhở, Tổ chỉ dạy, chớ
Tổ không thể làm giúp thay cho chúng ta. Tổ không giết giặc, Tổ không chỉ huy,
Tổ cũng không làm gián điệp, cũng không cho nỏ thần hay khí giới hiện đại để thị
uy hoặc tiêu diệt giặc.
Biết
bao lần chúng ta cầu mong phép lạ, điềm linh giết giặc thay chúng ta hưởng. Biết
bao lần chúng ta trách móc các Đấng Linh Thiêng không tích cực độ trì, giúp ta
khoanh tay nhìn giặc chết! Biết bao lần chúng ta kết tội người khác, kết tội
nhau không làm thế này thế nọ.
Vấn
đề không phải là Tổ làm, mà là chúng ta biết thực thi ý muốn của Tổ. Khi biết Tổ
Tiên và các Đấng Thiêng Liêng muốn cứu dân lành, thì chính chúng ta phải tỏ ra
là người con thảo, là tín đồ thuận thành. Chính chúng ta ra công phá giặc và hoàn
thành ý muốn của Đấng Thiêng Liêng. Chính chúng ta phải làm, phải dấn thân, thì
mới cứu được nước. Xin nhớ rằng chúng ta có tổ chức hợp nhu cầu thời đại thì mới
thành công.
Vua
Hùng được Tổ chỉ cách. Nhưng trước khi vua thể hiện ý Tổ, chúng ta thử nhìn lại
giai đoạn vừa qua. Vua Hùng sống với thực trạng mất nước, và khởi công từ thực
trạng đó mà làm. Vua không nuối tiếc hão huyền, cũng không mơ mộng viển vông của
cuộc đời vương giả. Vua tìm về nền tảng của công cuộc tổ chức cứu nước. Nền tảng
đó là Tổ, là Sức Sống, là Truyền Thống siêu việt đang tiềm tàng trong đời sống dân
chúng.
Với
quyết tâm cứu nước, vua lột xác, sẵn sàng thích ứng và xử dụng mọi hoàn cảnh mới,
mọi điều kiện mới. Cuối cùng là dấn thân, không do dự, không ỷ lại, sẵn sàng biến
mọi chướng ngại thành phương tiện hữu hiệu trong việc cứu nước. Vua Hùng là biểu
tượng của con người cứu nước đích thực. Vì vậy những đức tính trên cũng chính
là những điều kiện cần thiết cho bất cứ ai muốn thực sự góp phần vào việc phá
giặc.
Truyền
thuyết Mỵ Châu - An Dương Vương từ bỏ Hồn Nước, nên dẫn tới mất Nước. Ở đây Vua
Hùng gặp lại Tổ, sống lại Hồn Nước, nên khởi sự cứu nước.
Lời
dạy của Tổ chính là phương thức cứu nước. Lời dạy của Tổ là ý muốn của Tổ, là
chính Tổ sống động hiện thực trong dân nước. Theo Lời Tổ là động lực cho mọi
hành động của vua Hùng. Vua sai sứ đi tìm Người Cứu Nước, sở dĩ các sứ chịu đi
và toàn dân chịu nghe theo cũng vì làm theo Lời Tổ – chớ không theo Lời Vua.
Lời
Tổ trở thành Sức Sống, trở thành Hồn Thiêng tạo dựng, thúc đẩy, điều hợp và
hoàn thành đại cuộc. Sức Sống này từ Vua Hùng truyền qua đoàn sứ nhân (đảng
chính trị) và từ sứ nhân truyền qua toàn dân.
Được
Tổ chứng giám, Tổ chỉ dạy, giờ đây vua mạnh dạn sai sứ lên đường. Đoàn sứ nhân
chính là đại diện, là hiện thân, là chính Vua Hùng đi đến với toàn dân.
Như
vậy, đoàn sứ nhân là Người Cứu Nước lên đường hành động, dấn thân thể hiện sứ mạng
theo Lời Tổ dạy. Đem Sức Sống của Tổ đến cho toàn dân. Toàn dân nhờ đó mới nhận
được sứ điệp Tổ và mới cứu được nước. Vai trò của tổ chức chính trị đích thực
là nền tảng trong công cuộc cứu nước.
Sứ
nhân lên đường và chia nhau đi đến với dân chúng khắp nơi. Mục tiêu hành động đầu
tiên của tổ chức cứu nước là Dân, chớ chưa trực tiếp đối đầu với Giặc. Công tác
chính là vận động mọi người đứng lên chống giặc. Có như thế thành công mới trọn
vẹn là của dân và do dân.
Sứ
nhân đi khắp nơi, không bỏ sót, không từ khước bất cứ nơi chốn hay một phạm vi
nào. Nơi đó có thể là trong nước hay ngoài nước, nơi thân thiện hay ở ngay
trong lòng địch, trong các lãnh vực văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, ngoại
giao, quân sự, kỹ thuật, văn nghệ, giáo dục, thể thao, giải trí, truyền thông. Sứ
nhân tiến vào các cộng đồng, hội đoàn, nghiệp đoàn, họ tộc, gia đình, hay là
trí óc, con tim, cuộc sống của bất cứ ai, ở bất cứ nơi đâu, trong bất cứ hoàn cảnh
hay sinh hoạt con người, cá nhân cũng như tập thể.
Sứ
nhân chia nhau đi, không dồn chung một chỗ, không dành nhau một việc. Mỗi người
tùy khả năng và hoàn cảnh riêng mà nhận phần trách nhiệm của mình. Có phân nhiệm
mới có tổ chức. Tổ chức cứu nước là những con người cùng thể hiện các đức tính
của sứ nhân, và theo hiện tình và khả năng linh động, mà chia nhau trách nhiệm
hoàn thành các công tác thực thi sách lược cứu dân. Ðoàn sứ nhân chia nhau đi
khắp nơi để loan tin. Nhưng tin của họ thực là đơn sơ, Tổ đã về và sai đi tìm
người cứu nước.
Thông
điệp với nội dung ngắn gọn, nhưng tác dụng lại hệ trọng. Tổ về và Tổ bảo đi tìm
chứng tỏ Tổ độ trì cho tổ chức, cho phương thức, chắc chắn có người cứu được nước.
Chúng ta đã có Sức Sống, có sách lược, có nhân sự. Ðây là lúc khám phá, là lúc
thực hiện. Dầu giặc đang mạnh, nhưng chắc chắn chúng ta sẽ thắng. Có gì khích động
và hứng khởi hơn để khơi dậy niềm tự tin tự hào dân tộc bằng nguồn tin tuyệt diệu
này? Dầu ai tuyệt vọng, cũng phải hăng say với tin mừng.
Đoàn
sứ nhân đi loan tin khắp nơi, chính là thể hiện công tác đem Tinh Thần dân tộc
đến cho toàn dân. Nước mất vì dân quên Tổ, quên nếp sống truyền thống siêu việt
của Tổ Tiên, quên Chánh Thuyết Tiên Rồng. Giờ đây sứ nhân nhắc nhớ tới Tổ, thức
tỉnh niềm tin, sống lại tinh thần và sức sống dân tộc.
Khi
đến với dân sứ nhân không chỉ loan tin, mà còn phải có hành động cụ thể. Sứ
nhân lục lạo tìm kiếm cho ra Người Cứu Nước (Phù Đổng). Hoạt động này cũng gây
tác dụng thiết yếu. Khi đã phấn khởi nhờ sống lại niềm tin, mọi người cũng tiếp
tay với đoàn sứ nhân mà đi tìm Phù Đổng.
Khi
góp phần tìm kiếm, chính là lúc mọi người đều thấm thía nạn mất nước. Do đó, mỗi
người sẽ ý thức đích xác về phận vụ của mình trong công cuộc cứu nước. Mọi người
sẽ lột xác, lãnh nhận trách nhiệm, và dấn thân chu toàn sứ mạng lịch sử. Như vậy,
đoàn sứ nhân loan tin và tìm kiếm chính là thực hiện công tác làm cho người dân
sống lại Hồn Nước, ý thức nạn nước, nhận lãnh trách nhiệm, và dấn thân cứu nước.
Ðây
cũng là công tác làm cho Mọi Người sống trọn nếp sống Việt, trở thành Người Dân
Đích Thực, trở thành Người Cứu Nước.
Truyền
tích An Dương Vương làm mất nước, vì đã xa cách dân, loại dân ra khỏi việc nước.
Giờ đây Vua Hùng, qua đoàn sứ nhân đã tìm lại dân, giúp dân ý thức và chung phần
việc nước.
Mọi
người đã cùng cố công tìm kiếm, và rồi tại làng Phù Ðổng họ đã gặp người cứu nước.
Việc gặp thấy người cứu nước tại một làng cũng là nét đặc trưng của Chánh Thuyết
Tiên Rồng, nhấn mạnh người cứu nước được tìm gặp ở trong làng, chớ không phải
cung điện vua hay chốn đô thị. Trong nếp sống dân ta, làng giữ một vai trò nền
tảng. Thể chế làng nước đã được Tổ tiên đặc biệt chú trọng và lưu truyền trong truyện
tích An Tiêm.
Tại
làng đã xuất hiện người cứu nước. Nhưng nhân vật này cũng kỳ lạ khác thường, chỉ
là cậu bé ba tuổi. Tính cách bé bỏng của cậu bé tượng trưng cho đại chúng, cho
toàn dân. Cậu bé lên ba cũng phù hợp với khoảng thời gian mà sử Trung Quốc ghi
Ân Cao Tôn xâm lấn nước ta. Như vậy, cậu bé ba tuổi này chính là biểu trưng cho
đại chúng, cho toàn dân. Vị cứu tinh chính là người dân.
Dầu
tê liệt câm nín, nhưng Cậu Bé lại lắng nghe. Sống trong tay giặc, toàn dân hay
Cậu Bé Phù Ðổng phải lặng im bất động. Vì ai phát biểu linh tinh là bị giặc bắt
đi tù cải tạo mút mùa lệ thủy.
Mọi
người nôn nóng trông chờ ngày thoát ách giặc. Mọi người sôi sục đợi ngày vùng
lên. Mọi người lắng tai nghe ngóng tin tức cứu nước. Khi sứ nhân loan tin Tổ về,
Cậu Bé cấp thời hưởng ứng. Khi nghe sứ nhân, chính là lúc Cậu Bé bừng lên niềm
hy vọng chói chan, sống lại Hồn Nước.
Ðã
gặp lại Tổ, đã sống lại niềm tin, Cậu Bé liền bật nói, toàn dân đều bật nói. Bật
nói là dám hiên ngang bộc lộ. Dầu mới chỉ bằng lời, nhưng đây cũng là dấu chỉ của
lòng tự tin và phấn khởi. Từ đây người dân đã dám tự hào về mình, dám nói lên
niềm tin tưởng của chính mình. Cậu phát biểu lời đầu tiên là đòi ngựa và roi sắt.
Cậu đòi hỏi phương tiện để phá giặc cứu nước.
Dấu
chứng sức mạnh tinh thần đã bộc lộ. Khi thoát khỏi tình trạng câm nín, khi tinh
thần đã được củng cố, khi ý thức được trách nhiệm với nước, điều đầu tiên người
dân nghĩ tới là phương tiện chiến đấu.
Khi
dân đòi phương tiện chiến đấu, cũng là dấu hiệu cho thấy đoàn sứ nhân – tổ chức
cứu nước đã thành công trong công tác thức tỉnh người dân. Tại khúc quanh quyết
định này, vai trò của sứ nhân cũng đổi khác. Trước đây thì sứ nhân nói cho dân
nghe. Hôm nay dân đã nghe đã nói, thì sứ lại là người phải nghe dân. Trong hoạt
động tổ chức, chúng ta phải thấy rõ điều này.
Khi
người dân thành tâm tiếp nhận và sống đúng tinh thần Tổ, thì tiếng dân trở
thành tiếng Tổ. Ý dân là ý Tổ trong hiện trạng đất nước. Tiếng dân giờ đây trở
thành phương thức thiết thực và hữu hiệu cho công cuộc cứu nước.
Khúc
quanh này đặc biệt rất quan trọng cho tổ chức cứu nước, chẳng những vì nó quyết
định sự thành bại cho đại cuộc, mà còn thẩm định bản chất của tổ chức. Tổ chức
không biến đổi, không trở thành người nghe dân, thì chắc chắn tổ chức đó không
phải là tổ chức của dân.
Từ
đó láng giềng khắp nơi đem gạo vải tới giúp Cậu ăn mặc. Khi đã tự tin, người
dân tự động khởi công gia nhập và đóng góp. Ăn mặc là nhu cầu nền tảng của đời
sống con người. Gạo vải là tất cả nhu cầu thiết yếu trong cuộc cứu nước.
Ðẹp
thay cảnh toàn dân tấp nập góp gạo góp vải. Mọi người tự nguyện góp của góp
công, cộng tài cộng đức. Bao thiện chí bấy nhiêu nung nấu, bao tài năng bấy lâu
che đạy, bao sức mạnh bấy lâu đè nén, bao phương tiện bấy lâu tích trữ, bao diệu
kế bấy lâu ấp ủ thì giờ đây tất cả bộc phát, tất cả hiển hiện, tất cả vùng lên.
Khi
lãnh nhận trách nhiệm, người dân tự nguyện đóng góp, tự túc chu cấp những nhu yếu
cơ bản của cuộc chiến đấu. Tất cả gạo vải, mọi sự đóng góp đó, đều để giúp cho
Cậu Bé Phù Ðổng ăn mặc. Tất cả tự nguyện của dân đều tập trung vào Cậu Bé. Người
dân chỉ quy tụ quanh Cậu Bé, là dân chớ không tập họp theo các sứ.
Trong
giai đoạn đầu của công cuộc thức tỉnh, người dân chỉ mới tin tưởng vào những
người thân cận quanh mình, trong tầm vóc làng thôn. Những gì sứ nhân hứa hẹn, dầu
sao, cũng còn quá xa vời. Theo đúng tâm trạng Con Người, người dân chỉ tự ý quy
tụ quanh Cậu Bé Phù Ðổng, vì chính Cậu Bé đã tỏ ra vài dấu hiệu đặc biệt, chỉ Cậu
Bé đáp ứng phần nào công tác tìm kiếm anh hùng cứu nước.
Dân
chỉ quy tụ theo ai tỏ ra thực sự có tâm huyết, có tinh thần, hết lòng vì đại cuộc,
dấn thân chu toàn sứ mạng chung. Có dân tự ý quy tụ chính là tiêu chuẩn để thẩm
định một công cuộc đích thực của dân, do dân. Khi mọi người góp sức, Cậu Bé Phù
Ðổng lớn nhanh như thổi. Gạo vải thu tích không phải để chất đống, mà tất cả đều
được xử dụng làm tăng trưởng sức sống toàn diện.
Việc
tập trung sức mạnh, vấn đề phân nhiệm và điều hợp giữ phần quan trọng hàng đầu.
Sức mạnh toàn dân chỉ có thể thực sự hữu hiệu, khi được vận dụng và điều hợp
đúng mức. Không phân nhiệm, không định hướng, sự quy tụ sẽ trở thành hỗn loạn,
phân hóa, và đối nghịch nội bộ.
Giai
đoạn tập trung năng lực toàn dân, cũng là bài học đoàn kết. Mọi người vây quanh
Cậu Bé Phù Ðổng, là vì sống lại niềm tin dân tộc, ý thức trách nhiệm cứu nước,
tìm ra Cậu Bé, và Cậu Bé bật nói. Như vậy, công tác kết hợp toàn dân đã thành
công, chẳng những giúp cho mọi người sống thực tinh thần dân tộc và ý thức
trách nhiệm, mà còn chứng tỏ kế sách hữu hiệu, qua một số hoạt động có kết qủa
thực tiễn. Ðây là những điều kiện thiết yếu cho việc đoàn kết toàn dân. Khi
không hội đủ các yếu tố này, việc đoàn kết chỉ là chòm xóm, giai đoạn, hời hợt
theo mục tiêu hạn hẹp.
Sứ
vua đem ngựa và roi sắt tới. Ngựa sắt và roi sắt là sức mạnh và phương tiện chiến
đấu. Ngựa và roi sắt cũng là biểu trưng của sức mạnh quân sự để phá giặc. Trong
bầu khí mất nước và toàn dân vừa vùng lên góp tài góp của, thì ngựa và roi sắt
chính là sự đóng góp của toàn dân.
Tuy
nhiên, sức mạnh phương tiện đó lại do sứ đem tới. Ðoàn sứ nhân, tổ chức cứu nước
đã đem Hồn Nước về với toàn dân, nhờ đó Toàn Dân vùng dậy. Giờ đây đoàn sứ nhân
còn phải điều hợp sức mạnh ở các tổ chức làng xã thành tầm vóc toàn nước, biến
sự đóng góp của toàn dân thành sức mạnh chiến đấu chống giặc. Sức mạnh này
không chỉ nhấn mạnh ở lãnh vực quân sự, mà còn bao trùm mọi lãnh vực kinh tế,
xã hội, chính trị, giáo dục, ngoại giao ảnh hưởng tới cuộc chiến đấu.
Phận
vụ của tổ chức cứu nước còn là nhận rõ sức mạnh hiện thực tiềm ẩn trong dân nước,
rồi tùy theo hoàn cảnh và điều kiện thực tế mà ứng biến thành sức mạnh cứu nước
hữu hiệu. Việc tổ chức và điều hợp lại cần nhân sự, khả năng đặc biệt, và ngành
nghề chuyên môn. Tất cả đều xác định đúng vai trò quan trọng của một tổ chức có
đủ tầm nhìn xa trông rộng, biết quyền biến với tình thế.
Khi
nhận được ngựa và roi sắt, Cậu Bé liền vươn vai thành người cao lớn. Cậu đã ăn
nhiều, đã lớn như thổi, nhưng phải chờ cho tới khi có ngựa và roi. Cậu mới vươn
vai vượt tới tầm vóc đúng mức của mình. Trước đây, khi nghe về Tổ, Cậu đã bật
nói, đã dám bộc lộ chính mình. Nhưng nay, có thêm ngựa và roi sắt, Cậu mới vùng
dậy, mới đi đứng, mới hành động. Dầu mọi người đã thức tỉnh, đã quyết tâm,
nhưng phải có phương tiện thì toàn dân mới có thể ra tay, mới có thể đối đầu với
giặc.
Nhờ
có sứ nhân trao ngựa sắt, Cậu Bé đã vươn vai. Nhưng khi cậu nhảy lên ngựa, thì
ngựa sắt biến thành ngựa thần, sống động và phun lửa.
An
Dương Vương ỷ vào thành ốc và nỏ thần để mất dân. Nỏ thần dầu bắn một phát giết
cả vạn giặc, mà vì không có dân, nên mất hiệu nghiệm, không bằng nỏ gỗ. Khi được
sức mạnh dân tộc xử dụng, thì ngựa sắt cũng hóa thành ngựa thần.
Không
dân, nỏ thần thành nỏ gỗ. Có dân, ngựa sắt hóa ngựa thần.
Toàn
dân vươn vai thì mọi sự cũng đều vươn theo. Sức mạnh của toàn dân làm cho mọi
phương tiện trở thành hiệu lực cách thần kỳ, trở thành linh hiển. Không có hình
ảnh nào diễn tả sức mạnh và vai trò của toàn dân một cách rõ ràng và đầy đủ
hơn.
Ðã
có Hồn Nước, đã có toàn dân. Sức mạnh đã tập trung, đây là lúc vùng lên đuổi giặc
để giành lại Đất Nước. Với ngựa lửa roi sắt, vị anh hùng Phù Ðổng oai dũng đánh
giặc một trận tơi bời. Khi toàn dân có tinh thần, có sức mạnh, có phương tiện,
thì việc đuổi giặc ra khỏi bờ cõi là chuyện đương nhiên.
Ngựa
lửa là sức mạnh của đấu tranh, nhưng Phù Ðổng dùng roi sắt. Hình ảnh dùng roi
nói lên lòng nhân thứ của Tổ Tiên, tổ chức chúng ta dùng roi chứ không dùng
gươm. Roi mang ý nghĩa sửa dạy, đánh phạt, dù là roi sắt, đang khi gươm giáo là
vũ khí chém giết, tàn sát, hủy diệt. Ngay trong ngôn ngữ chúng ta cũng dùng chữ
đánh dù là giặc, đánh giặc. Cương quyết, dũng mãnh, nhưng không tàn bạo như giết
giặc, diệt giặc, hủy hoại thân thể giặc. Đó là tinh thần nhân thứ, khoan dung,
và qúy trọng con người được ghi trong Chánh Thuyết Tiên Rồng.
Với
việc Tổ trở về, với vua Hùng và đoàn sứ nhân dấn thân, với tổ chức cứu nước, với
mọi người góp gạo góp vải, với ngựa sắt roi sắt, với tre làng bị nhổ, với số
làng bị cháy, tính cách toàn dân toàn diện của công cuộc cứu nước đã bộc lộ rõ
ràng.
Mọi
người và tất cả, đều được vận dụng để chống giặc. Từ những phương tiện vật chất,
gạo, vải, sắt, lũy tre, thú vật đến làng thôn, hệ thống tổ chức quốc phòng,
chính trị, xã hội, văn hóa cho đến tinh thần dân tộc, qúa khứ lịch sử, và cả
sông núi, Hồn Thiêng tất cả đều gom đúc thành Sức Mạnh thần diệu của Dân Tộc, tất
cả đều góp phần vào việc cứu dân cứu nước.
Giờ
đây chiến thắng mới thực sự là chiến thắng toàn vẹn của toàn thể dân tộc. Có
như vậy, cuộc sống mới thực sự mở đầu cho tất cả mọi người.
Bài
học dạy cách đánh giặc cứu nước. Giờ đây giặc đã tan, nhưng việc cứu nước vẫn
chưa xong. Bài học Phù Đổng vẫn còn tiếp khi cỡi ngựa lên núi về trời. Núi là
nơi ở của Tiên (chữ nhân ghép với chữ sơn là chữ tiên). Hình ảnh lên núi nhắc
nhớ đến phần Tiên.
Phù
Ðổng biểu tượng của sức mạnh tập trung của dân tộc, tức phần Rồng. Sức mạnh đó
được vận dụng tối đa và oai dũng đánh đuổi quân giặc. Giờ đây giặc tan, dân nước
lại vui hưởng thanh bình, nên Sức Mạnh đó lên núi, tức không còn cần phải bộc lộ
oai dũng, mà được thăng hoa tiềm tàng vào sông núi, vào tâm hồn của dân nước.
Chiến
công đuổi giặc trở thành kinh nghiệm sống của toàn dân, trở thành phần Tinh Thần,
phần Truyền Thống bất diệt nhập vào phần Tiên của dân tộc theo nguyên lý Tiên Rồng
Song Hiệp.
Qua
toàn bộ công cuộc, chẳng những toàn dân đã đánh đuổi giặc nước, mà mỗi người
còn dẹp tan được mọi thứ giặc trong chính bản thân. Trong tiến trình trở thành
người cứu nước, mọi người cũng trở thành Con Người toàn vẹn. Khi cứu được nước,
dân tộc ta đã trở thành một khối hiệp nhất, toàn hảo, toàn hiệp.
Với
mọi chướng ngại đã được đánh tan, với những kinh nghiệm tuyệt hảo, với niềm tin
chan chứa, và với sức sống tràn đầy, giờ đây khối người toàn hiệp này đem trọn
tâm sức cùng nhau xây dựng một cuộc sống mới. Với cuộc sống phát xuất từ tâm khảm
của những con người thấm nhuần Chánh Thuyết Tiên Rồng, toàn dân hiên ngang bước
vào một Kỷ Nguyên Mới của một xã hội loài người tràn đầy hạnh phúc.
Về
trời là sự phong thưởng cao qúy nhất của Chánh Thuyết Tiên Rồng. Như Chử Đồng -
Tiên Dung về trời sau khi hai ngài trọn đời chăm lo việc thịnh nước an dân. Phù
Ðổng thi hành nghĩa vụ giúp dân cứu nước, cũng được về trời. Tổ Tiên phong thưởng
cho những người đóng góp công đức trong đại cuộc dựng nước được về trời, được
tòan dân kính nhớ tôn thờ.
Có
người cho rằng dân Việt có đạo thờ Anh Hùng. Quả thật chúng ta thờ những vị
Danh Tướng và trên đất nước có nhiều đền thờ các Ngài. Ngòai ra, mỗi làng đều
có Thành Hòang và hầu hết là những Anh Hùng đóng góp công đức cho dân nước thuộc
mọi thành phần, mọi lãnh vực. Anh Hùng Kiệt Nữ được thờ là những vị có công với
dân nước. Không có người nào đi xâm lăng hay tàn hại dân tộc khác mà được tôn
thờ như những văn hóa khác sùng bái thần Chiến Tranh, thần Máu Lửa trong các đền
thờ và cổ vũ trong nếp sống, trong phim ảnh, trong giáo dục như thảm trạng nhân
loại hiện nay.
Bi
kịch Loa Thành thất thủ đẫn tới việc nàng công chúa Mỵ Châu bị chết dưới lữa
gươm oan nghiệt của vua cha An Dương. Mỵ Châu đền tội vì trách nhiệm trong việc
làm mất nước. Nhưng sự thể xảy ra nông nỗi đó cũng chỉ vì nàng quá yêu thương
và tin tưởng chồng.
Tổ
Tiên thưởng phạt phân minh. Có tội làm hại nước thì phải chết. Nhưng nàng trọn
tình nhà, thì cũng được thưởng công. Tổ Tiên phong thưởng bằng cách cho máu
nàng chảy xuống biển và được giống trai nuốt vào mà hóa thành ngọc.
Cách
phong thưởng này chẳng những không kỳ lạ, mà lại nằm trong hệ thống giá trị của
văn hóa Việt. Những người sống trọn tình nhà như người em trong Trầu Cau, người
vợ trong Vọng Phu, trái tim của Trương Chi, và máu của Mỵ Châu. Tất cả đã hóa
đá hóa ngọc. Đá, ngọc là thành phần Vật Chất, là trở thành trường tồn với thời
gian, được qúy chuộng, được làm nền tảng xây dựng lâu dài.
Về
phần Trọng Thủy, dầu thành công trong mưu đồ xâm chiếm, nhưng chàng nhớ vợ và
nhảy xuống giếng mà chết. Chàng đã vì ý đồ xâm lăng, mà phụ nghĩa vợ chồng, thì
chàng cũng phải chết. Vì danh lợi mà không trọn Tình Nhà, thì cuộc đời cũng
không đáng sống, thì không có quyền sống.
Vì
tình nhà mà hại nước thì phải chết. Vì quyền lực mà hại nhà, thì cũng phải chết.
Đây là tuyệt đỉnh bài học làm người của văn hóa Việt. Bài học này đi ngược hẳn
chủ trương của nhiều văn hóa khác.
Với
cái chết của Mỵ Châu, Tổ Tiên ta xử tử hình các chủ thuyết cá nhân vị kỷ. Với
việc Trọng Thủy nhảy xuống giếng, các chủ thuyết tập thể bá quyền cũng bị nhận
chết theo.
Con
người chỉ có thể sống xứng đáng, trọn vẹn và hạnh phúc khi thể hiện đầy đủ các
đặc tính bẩm sinh vừa cá thể vừa xã hội của mình. Có nhà mà cũng có nước, Có nước
mà cũng có nhà. Tiên Rồng Song Hiệp hoàn chỉnh.
Mỵ
Châu và Trọng Thủy đều phải chết. Thực cảm động khi những viên ngọc do máu Mỵ
Châu trở thành sáng đẹp hơn khi rửa trong nước giếng chôn xác chồng nàng. Nàng
yêu thương và tin tưởng chàng đến nỗi giao phó cả nước non, đưa nỏ thần cho
chàng xem. Nàng yêu chàng trong tuyệt vọng đến liều lĩnh khi nhổ lông ngỗng làm
dấu hiệu trên đường chạy trốn chàng. Giờ đây cả những giọt máu của nàng cũng
tươi sáng lên khi được tắm trong nước tẩm xác chàng.
Nàng
sống trọn tình yêu Chánh Thuyết Tiên Rồng. Nàng thể hiện những nguyên tắc Thân
Thương Tột Cùng, Quyết chẳng lìa nhau, Sẵn sàng chết cho nhau, và Mãi mãi có
nhau.
Chỉ
tiếc là nàng không ứng dụng nguyên tắc tắc đầu tiên của hai người phải Giống
nhau như đúc, là phải tìm hiểu nhau, phải Gặp nhau trọn vẹn, nên nàng đã không
nhận ra Trọng Thủy và bị giặc lừa gạt.
Ở
cấp Tình Nước, những người an dân thịnh nước như Tiên Dung Chử Ðồng thành Tiên,
Phù Ðổng thành Thần. Tiên, Thần là phần thưởng công, phần thăng hoa hay tinh
túy của linh thiêng.
Ở
cấp Tình Nhà, Trầu Cau qua chuyện người em hóa đá, máu Mỵ Châu trọn tín thác chồng
thì hóa ngọc, trái tim Trương Chi ôm mối tình câm, chỉ vì con người phân chia đẹp
xấu, giầu nghèo thì cũng hóa ngọc. Ðá, ngọc là kết tinh, tinh túy của vật chất!
Nói
đến cả hai phần vật chất và tinh thần của con người, được thăng hoa thành đá,
thành ngọc, thành tiên, thành thần thì chúng ta lại trở về với con người Tiên Rồng
– con người thật trong bộ ba nền tảng!
Vậy
có sự an ủi và niềm hãnh diện nào hơn là chúng ta được làm con cháu của Tổ Tiên
dòng giống Tiên Rồng siêu việt – Con Cháu Tiên Rồng sống, học hỏi và làm việc
trong một tổ chức chính trị Đảng Tiên Rồng với sứ mệnh được nêu rõ Giúp Dân Cứu
Nước!


No comments:
Post a Comment